(Reuters) - Hội nghị của Liên hợp Quốc về biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Durban, Nam Phi từ ngày 28/11 đến 9/12 nhằm tìm kiếm một thỏa thuận mới nhằm ngăn chặn sự tăng vọt lượng khí thải làm trái đất ấm lên.
Dưới đây là cách thế giới khám phá ra hiện tượng trái đất ấm lên và các nỗ lực của quốc tế trong việc nhìn nhận nó:
Năm 300 TCN, Theophrastus, một học trò của nhà triết học người Hi lạp Aristotle, đã có tài liệu chứng minh rằng các hoạt động của con người có thể ảnh hưởng đến khí hậu. Ông quan sát sự thoát nước của các đầm lầy làm cho khu vực xung quanh Thessaly trở nên mát mẻ và việc phát quang rừng gần Philippi làm khí hậu ấm lên.
TK 17, một nhà khoa học người Flemish tên là Jan Baptista van Helmont phát hiện ra carbon dioxide là sản phẩm của việc đốt cháy than củi.
TK 18, cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, việc sử dụng nhiên liệu hóa thách tăng mạnh.
Những năm 20 của TK 19, nhà toán học người Pháp Jean-Baptiste Joshep Fourier cho rằng có một thứ gì đó trong khí quyển đang làm cho trái đất ấm hơn bình thường. Đây được coi là một dấu hiệu của hiện tượng nhà kính.
Những năm 30 của TK 19, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Louis Agassiz đã đưa ra bằng chứng rằng những thay đổi ở núi băng Alpine trong quá khứ là từ Kỷ Băng Hà và khí hậu không phải lúc nào cũng ổn định.
Những năm 60 của TK 19, nhà khoa học người Ailen John Tyndall chỉ ra rằng các phân tử khí như hơi nước và cácbon đioxit giữ nhiệt. Ông đã ghi chép lại rằng các thay đổi "có thể làm cho khí hậu biến đổi".
Năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển Svante Arrhenius là người đầu tiên định lượng được vai trò của cacbon đioxit trong việc giữ ấm trái đất. Sau này ông kết luận rằng việc đốt than có thể làm cho mức cacbon tăng đáng kể qua các thế kỉ.
Những năm 50 của TK 20, nhà khoa học người Mĩ Charles Keeling lập ra các trạm đo nồng độ cacbon đioxit trong khí quyển ở Bắc Cực và Mauna Loa, Hawai. Các số liệu đã chỉ ra rằng nồng độ cácbon đang tăng đều đặn.
Năm 1965, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã trình bày trước Quốc hội rằng: "thế hệ của chúng ta đã thay đổi cấu trúc của khí quyển trên quy mô toàn cầu bằng việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, từ đó làm tăng lượng cácbon đioxit."
Năm 1988, Thủ tướng Anh Margaret Thatcher phát biểu tại Liên hợp Quốc rằng: "Biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới tất cả mọi người và những hành động sẽ chỉ có hiệu quả nếu nó nó được thực hiện trên quy mô quốc tế. Sẽ không tốt chút nào khi cứ cãi nhau rằng ai phải chịu trách nhiệm và ai nên trả giá."
Năm 1988, Liên hợp Quốc thành lập Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) để đánh giá các bằng chứng khoa học.
Năm 1992, các nhà lãnh đạo thế giới thống nhất về Hội nghị khung của LHQ về Biến đổi khí hậu, đặt ra một mục tiêu không ràng buộc rằng tới năm 2000 sẽ ổn định lượng khí thải nhà kính tới mức của năm 1990. Về tổng thể, mục tiêu đã không đạt được.
Năm 1995, IPCC lần đầu tiên kết luận rằng con người là nguyên nhân làm trái đất ấm lên: " Các bằng chứng đã chỉ ra những tác động rõ ràng của con người vào khí hậu toàn cầu."
Năm 1997, nghị định thư Kyoto được ký kết ở Nhật Bản, các nước phát triển thống nhất cắt giảm it nhất 5% lượng khí thải nhà kính trung bình, xuống dưới mức của năm 1990 theo lộ trình 2008-2012. Mỹ đã không tham gia vào nghị định này.
Năm 2001, IPCC kết luận rằng có vẻ như các hoạt động của con người là nguyên nhân chính của hiện tượng trái đất ấm lên gần đây.
Năm 2001, Tổng thống Mỹ George W. Bush trích dẫn lời của Học viện Khoa học quốc gia Hoa Kỳ rằng khí nhà kính đang tăng mạnh do những hoạt động của con người. Ông nói them: "Tuy nhiên, bản báo cáo của Học viện cho thấy chúng ta vẫn chưa biết mức độ ảnh hưởng của những thay đổi tự nhiên của khí hậu đối với hiện tượng ấm lên của trái đất. Chúng ta vẫn chưa hiểu được khí hậu có thể hay sẽ thay đổi thế nào trong tương lai."
Năm 2007, IPCC cho rằng gần như 90% nguyên nhân của xu hướng ấm lên trong 50 năm qua là do con người. Và hiện tượng trái đất ấm lên là không còn nghi ngờ gì nữa.
Năm 2009, một hội nghị bao gồm 193 nước đã thống nhất sẽ ký kết một hiệp định Copenhagen mới trong tháng 12 để ứng phó với biến đổi khí hậu, sau khi hội nghị của LHQ kết thúc tại Đan Mạch. Hiệp định này sẽ không mang tính ràng buộc pháp lý và không bắt các nước phải cam kết một nghị định mới sau khi giai đoạn đầu của nghị định thư Kyoto kết thúc vào năm 2012. Hội nghị đã không thừa nhận quan điểm khoa học rằng nhiệt độ trung bình của trái đất chỉ nên tăng dưới 2 độ C và việc cắt giảm mạnh khí thải nhà kính là cần thiết.
Năm 2010, một thỏa thuận bao gồm 190 nước đã được thống nhất nhằm làm chậm quá trình biến đổi khí hậu, đây được coi là phao cứu sinh cho các cuộc đàm phán của LHQ.
Năm 2011, hơn 190 nước đã nhóm họp ở Durban, Nam Phi nhằm đi đến một thỏa thuận sau khi giai đoạn một của nghị định Kyoto kết thúc vào năm 2012 và thống nhất thành lập Quỹ Khí hậu Xanh để chuyển hàng tỉ đôla tới các nước nghèo, giúp họ bảo vệ môi trường và chống lại những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
(Nguồn: Reuters/Hội đồng liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, sách "Vì sao chúng ta tranh cãi về biến đổi khí hậu" của tác giả Mike Hulme, giám đốc sáng lập của Trung tâm Tyndall, tổ chức Margaret Thatcher, Thư viện và Bảo tang Lyndon Baines Johnson và các ghi chép của Svante Arrhenius)
(Writing by Alister Doyle, David Fogarty and David Cutler, London Editorial Reference Unit)